Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013


LTS: Sau khi cuốn sách "Kinh tế Việt Nam: Từ chính sách bình ổn tổng cầu sang chính sách trọng cung để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn" được xuất bản, đã có nhiều ý kiến ủng hộ cũng như phản biện về sự cần thiết hơn của các chính sách trọng cung hiện nay đối với Việt Nam. Anh Lê Hồng Giang có bài viết về chính sách trọng cung ở đây còn anh Phan Minh Ngọc có bài viết phản biện đích danh  ở đây.

Thời báo kinh tế Sài gòn hôm nay (2/5/2013 đã cho đăng bài phản biện của anh Minh Ngọc ở trên và bài bảo vệ dưới đây của tôi. Ngoài ra tôi còn để bài viết ở trang này. Bạn đọc có thể đăng nhập vào TBKTSG số ra ngày 2/5/2013 để đọc trực tiếp.
-----------------
                                                                      Phạm Thế Anh


Như tiêu đề của bài báo đã chỉ ra “Cần hơn các chính sách trọng cung”, trước tiên chúng tôi xin nhắc lại thông điệp chính của bài viết đăng trên TBKTSG số ra ngày 4-4-2013 đó là kinh tế Việt Nam hiện nay cần chú trọng hơn vào các chính sách trọng cung chứ không phủ nhận các lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý tổng cầu trong lịch sử kinh tế thế giới.

Có thể nói một cách khái quát rằng, lý thuyết trọng cung và lý thuyết quản lý tổng cầu là hai nhánh chính trong kinh tế học. Mỗi chính sách thuộc một trong hai lý thuyết này, một khi được thiết kế phù hợp và thực thi đúng thời điểm, sẽ giúp các nền kinh tế đạt được các mục tiêu mà chúng theo đuổi. Vai trò của các chính sách quản lý tổng cầu là không thể phủ nhận trong việc giúp kinh tế thế giới tránh được những hậu quả nặng nề của một cuộc đại suy thoái trong giai đoạn 2008– nay. Hay xa hơn, sự phản ứng sai lầm của chính sách tiền tệ và chậm trễ của chính sách tài khoá đã khiến kinh tế thế giới chìm đắm vào cuộc đại suy thoái kéo dài cả thập kỉ 30 của thế kỉ trước. Ngược lại, các chính sách quản lý tổng cầu lại không giải quyết được tình trạng đình trệ sản xuất và lạm phát cao của những năm 1970s. Trong khi đó, việc chuyển mạnh sang các chính sách trọng cung, bao gồm giảm các loại thuế phí, dỡ bỏ các rào cản thương mại, dỡ bỏ các chính sách điều tiết ngành và tư nhân hoá các DNNN, ưu đãi thuế cho các cá nhân và doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ, giáo dục đại học và đào tạo nghề, v.v. từ đầu những năm 1980s lại giúp cho các nền kinh tế phát triển (Anh, Mỹ, Pháp,…) cũng như đang phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Bra-xin,…) đạt được quãng thời gian tăng trưởng cao và gần như liên tục cho tới trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008–2009 xảy ra.

Quay trở lại kinh tế Việt Nam, những năm gần đây chúng ta thường lạm dụng các chính sách quản lý tổng cầu, bao gồm cả mở rộng tài khoá và tiền tệ. Sự gia tăng mạnh và liên tục của tổng cầu thông qua đầu tư công, chi tiêu NSNN và cung tiền M2, nhưng lại thiếu những biện pháp tập trung cải thiện tổng cung tiềm năng, đã khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ngày càng thấp đi. Khi tổng cung không được cải thiện tương xứng với tổng cầu, các loại giá cả bao gồm từ giá tiêu dùng, tiền lương, đến lãi suất và giá các loại tài sản đã tăng mạnh, kéo theo làn sóng đầu cơ và bất ổn. Tuy nhiên, thay vì nhìn nhận các vấn đề này là nguyên nhân của các sai lầm về thiết kế và thực thi chính sách quản lý tổng cầu, Chính phủ Việt Nam lại coi đó là những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đồng thời ngày càng gia tăng các biện pháp cưỡng ép hành chính và gọi chúng là “các chính sách bình ổn.”

Để minh chứng cho sự kém hiệu quả của các chính sách quản lý tổng cầu ở Việt Nam gần đây chúng ta có thể nhìn vào các chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2007–2012, tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế trung bình lần lượt là 12,6% và 6,2%, xấu đi đáng kể so với các con số tương ứng 4,9% và 7,6% của giai đoạn 2001–2006. Tức là, tăng trưởng gần đây thấp đi còn lạm phát lại cao hơn. Không chỉ có vậy, giai đoạn 2007–2012 cũng chứng kiến sự bất ổn, đo lường theo độ lệch chuẩn của các biến, tăng gấp đôi so với các con số tương ứng của giai đoạn trước đó. Điều này hàm ý, doanh nghiệp và người dân Việt Nam những năm gần đây đang sống trong một môi trường kinh tế bất ổn/tăng giảm thất thường hơn so với khoảng chục năm trước đây. Nguyên nhân của sự suy giảm kinh tế và bất ổn gia tăng này có lẽ có sự góp phần không nhỏ của các chính sách mở rộng tổng cầu thái quá với tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán M2 trung bình trên 26%/năm, và tăng trưởng chi tiêu NSNN là khoảng xấp xỉ 20%/năm. Đặc biệt, trong giai đoạn 2007–2012, các chính sách vĩ mô của Việt Nam cũng thay đổi khó lường hơn, với độ lệch chuẩn của tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng chi NSNN lần lượt là 9,3% và 9,6%, so với các con số 3,0% và 4,9% tương ứng của giai đoạn 2001–2006.

Bảng: Trung bình và độ lệch chuẩn của lạm phát, tăng trưởng và chính sách vĩ mô (%)

20012006
20072012
20012012

Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Lạm phát
4,9
3,6
12,6
7,1
8,8
6,8
Tăng trưởng GDP
7,6
0,8
6,2
1,5
6,9
1,4
Tăng trưởng M2
23,5
3,0
26,4
9,3
24,9
7,0
Tăng trưởng chi NSNN
19,1
4,9
19,6
9,6
19,3
7,6
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của TCTK và NHNN

Có thể nói, chính sách kích thích tổng cầu của Việt Nam trong những năm vừa qua đã mắc sai lầm ngay từ khâu thiết kế, đến thực thi, giám sát và thời điểm cần kết thúc. Thay vì phải hướng trọng tâm chính sách vào kích thích đầu tư tư nhân và xuất khẩu thì nó lại thiên về mở rộng đầu tư công thông qua hệ thống các DNNN và chi tiêu ngân sách. Mỗi năm có hàng trăm ngàn tỉ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP) và TPCP bảo lãnh được phát hành (Theo HNX năm 2012 là 167 ngàn tỉ đồng) để tài trợ cho chi tiêu của khu vực công. Các tổ chức tín dụng, thay vì hướng nguồn vốn nhàn rỗi đến các doanh nghiệp tư nhân bằng cách hạ lãi suất thì lại đổ tiền vào TPCP với lãi suất cao (và gần đây là cả vào vàng). Do vậy, lãi suất cho vay vẫn tiếp tục cao ngất ngưởng bất chấp áp lực lạm phát giảm, sản xuất đình trệ và những nỗ lực cắt giảm lãi suất hành chính của NHNN.

Ngoài ra, hậu quả của các chính sách kích thích tổng cầu hướng vào hệ thống DNNN kém hiệu quả và thiếu giam sát đã để lại cả một núi nợ xấu của khu vực này cho hệ thống ngân hàng. Quy mô kích cầu thái quá và kéo dài cũng đã khiến sản xuất của nền kinh tế lệch lạc vào những ngành nghề mang tính đầu cơ cao kém bền vững. Hậu quả là, gánh nặng nợ công, nếu tính cả nợ của hệ thống DNNN, đã xấp xỉ bằng với quy mô GDP của cả nền kinh tế.

Chính sách quản lý tổng cầu, nếu cần chú trọng, phải là những chính sách theo định hướng thay đổi cấu phần của tổng cầu chứ dứt khoát không phải là kích thích chi tiêu công hay tăng trưởng cung tiền thêm nữa. Chi tiêu công cần phải được cắt giảm để tạo cơ hội cho lãi suất giảm, từ đó đầu tư tư nhân sẽ tăng. Thuế phí phải được hạn chế, đồng thời tăng trưởng cung tiền phải được giữ ở mức thấp nhằm kiềm chế lạm phát, tạo tiền đề cho sức mua của khu vực tư nhân tăng trở lại.

Một số ý kiến cá nhân cho rằng, song hành với những thành tựu kinh tế đạt được trong hai thập kỉ qua là dấu vết can thiệp sâu rộng hơn (quy mô chi tiêu lớn hơn) của Chính phủ để rút ra kết luận rằng những thành tựu kinh tế đó là nhờ chi tiêu chính phủ là rất thiếu cơ sở. Thứ nhất, lập luận này không dựa trên việc xác định xem quy mô tối ưu của Chính phủ là bao nhiêu đối với tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới hầu hết chỉ ra rằng quy mô tối ưu này là không quá 25% GDP (trong khi ở Việt Nam chi NSNN trung bình trong 5 năm qua, chưa kể chi của DNNN, đã là 38% GDP). Thứ hai, khi kinh tế và chi tiêu công cùng tăng thì không có nghĩa chi tiêu công là nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế. Câu hỏi nghi vấn phù hợp nhất đặt ra ở đây phải là liệu tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn, hay thấp hơn, nếu chính phủ giảm sự can thiệp của mình vào nền kinh tế. Trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, phân tích thực nghiệm của chúng tôi đưa ra câu trả lời là tăng trưởng sẽ cao và ổn định hơn.

Đã 5 năm trôi qua kể từ khi kinh tế bắt đầu suy giảm, các chương trình tái cơ cấu luôn được nhắc đến trong các chương trình nghị sự của Quốc hội cũng như Chính phủ. Tuy nhiên, chúng tôi chưa nhận thấy một chính sách cụ thể nào được thực hiện để cải thiện năng lực sản xuất của nền kinh tế. Năng suất của nền kinh tế và các điều kiện để cải thiện nó vẫn giậm chân tại chỗ và ngày càng tụt hậu so với các nước trong khu vực. Chính vì thế, chúng tôi cho rằng đã tới thời điểm Việt Nam cần phải chú trọng hơn tới các chính sách trọng cung. Đây chính là thông điệp chính của cuốn sách Kinh tế Việt Nam: Từ chính sách bình ổn tổng cầu sang chính sách trọng cung để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn mới được chúng tôi hoàn thành.

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Kinh tế Việt Nam: Cần hơn các chính sách trọng cung

                                                               Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh

(Saigontimes đăng bài này nhưng quên ghi tên đồng tác giả Đinh Tuấn Minh)

Chính sách trọng cung và kinh nghiệm thực tiễn

Chính sách trọng cung là một tập hợp các biện pháp nhằm khuyến khích hành vi và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế thông qua việc làm tăng cung các yếu tố đầu vào, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường và ngành, cải thiện tổng cung tiềm năng của nền kinh tế, và do vậy có thể dẫn đến tốc độ tăng trưởng cao hơn của thu nhập quốc dân trong tương lai. Thực tiễn cho thấy, để thoát khỏi tình trạng đình đốn sản xuất và lạm phát cao trước đó, bắt đầu từ thập niên 1980s, các quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Xing-ga-po, v.v. đã chuyển mạnh sang chính sách trọng cung, tức tạo ra các khuyến khích để phát triển các yếu tố sản xuất. Một loạt các chính sách như giảm các loại thuế phí, dỡ bỏ các rào cản thương mại, dỡ bỏ các chính sách điều tiết ngành, và tư nhân hoá các DNNN lần lượt được thực hiện. Các chính sách trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp xã hội cũng được thu hẹp, đồng thời nhiều điều lệ ngăn cản sa thải nhân công cũng được dỡ bỏ. Điều này đã giúp tạo ra những khuyến khích khiến cho người lao động phải tích cực tìm kiếm việc làm thay vì ỉ lại vào chính phủ. Nhiều chính sách ưu đãi thuế cho các cá nhân và doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ, giáo dục đại học và đào tạo nghề cũng được các chính phủ đưa ra để nâng cao năng suất của nền kinh tế. Những chính sách trọng cung này đã tạo đà phát triển liên tục và ở mức cao cho các nền kinh tế theo đuổi chúng, cả phát triển và đang phát triển, trong suốt giai đoạn từ giữa thập niên 1980s cho đến khi đại suy giảm kinh tế thế giới 2008–2009 vừa qua. Đó là quãng thời gian tăng trưởng liên tục dài nhất trong lịch sử kinh tế thế giới.

Cuộc đại suy giảm kinh tế thế giới 2008–2009 khiến nhiều quốc gia quay trở lại chính sách kích cầu. Tuy nhiên, đây chỉ là những chính sách ngắn hạn. Những nền tảng chính sách trọng cung được thiết lập trong các thời kỳ trước như giảm thuế, tự do thương mại, dỡ bỏ các rào cản nhập ngành v.v. hầu như vẫn được các quốc gia duy trì.

Các khuyến nghị chính sách trọng cung cho Việt Nam

Tương tự như Trung Quốc sau khi thực hiện chính sách “mở cửa,” có thể nói một cách khái quát rằng, những thành tựu kinh tế mà Việt Nam đạt được thông qua công cuộc “đổi mới” kể từ cuối thập niên 1980s là chủ yếu nhờ những chính sách dựa trên nền tảng lý thuyết trọng cung chứ không phải quản lý tổng cầu. Có thể kể đến những chính sách mang tinh thần trọng cung được thực hiện trong giai đoạn 1988–1991 bao gồm: dỡ bỏ các hàng rào nội thương, cho phép thành lập công ty tư nhân, khoán 10 giao ruộng đất từ các hợp tác xã về cho các hộ nông dân, giải thể và sáp nhập các DNNN yếu kém, giải ngũ và cắt giảm biên chế, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Tương tự, nhiều cải cách lớn trong giai đoạn 1999–2006 cũng mang tinh thần trọng cung như cho phép các doanh nghiệp được quyền trực tiếp xuất nhập khẩu, ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2000 để dỡ bỏ các rào cản thành lập doanh nghiệp, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá DNNN, ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ, hình thành sở giao dịch chứng khoán và cải cách lại một loạt các bộ luật về thương mại, đầu tư, đất đai, v.v. để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Tiếc rằng từ năm 2007 tới nay, Việt Nam lại bị sa lầy vào chính sách quản lý tổng cầu để loay hoay hết kiềm chế lạm phát lại sang kích thích tăng trưởng, mà không ý thức được rằng các chính sách này chỉ có tính ngắn hạn và nhất thời. Việc sử dụng chúng liên tục như là một chính sách dài hạn là nguyên nhân chính khiến cho nền kinh tế bất ổn liên tục trong những năm vừa qua. Trong khi đó, dư địa cho các chính sách trọng cung để nâng cao sản lượng tiềm năng của Việt Nam còn rất lớn nhưng lại không được quan tâm khai thác đúng mức. Cụ thể, các chính sách trọng cung chúng tôi khuyến nghị ở đây bao gồm:
Khuyến nghị 1: Giảm các loại thuế phí và cắt giảm chi tiêu công

Nội dung quan trọng nhất trong gói chính sách trọng cung là cắt giảm các mức thuế và đồng thời cắt giảm chi tiêu chính phủ. Mục đích của chính sách giảm tỷ lệ thuế và phí là để tạo ra sự khuyến khích giúp doanh nghiệp tăng chi tiêu đầu tư, giúp hình thành lượng vốn/tư bản và năng lực sản xuất nền kinh tế trong tương lai. Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển khi lượng vốn sản xuất/tư bản trong nền kinh tế còn thấp, để thu hút đầu tư các quốc gia trên thế giới thường áp dụng một mức thuế thu nhập doanh nghiệp thấp (dưới 15%). Trong giai đoạn sau, khi nền kinh tế đã phát triển, mức thuế này thường được nâng cao (>30%) kèm theo những cải thiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội. Cụ thể, Thái Lan sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và Ai Len những năm gần đây là các quốc gia điển hình áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức thấp và đã thu hút được một lượng vốn đầu tư khổng lồ từ nước ngoài cũng như từ khu vực tư nhân trong nước, nhanh chóng hồi phục và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài.

Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ thuế và phí cần đi song hành với cắt giảm chi tiêu chính phủ. Nếu không cắt giảm chi tiêu chính phủ ngân sách sẽ bị thâm hụt, nợ công sẽ tăng cao, không những làm tăng mặt bằng lãi suất mà còn đe dọa khả năng duy trì mức thuế và phí thấp trong dài hạn.
Khuyến nghị 2: Đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cổ phần hoá các DNNN

Trong gần hai thập kỉ qua nhiều DNNN đã được cổ phần hoá, tuy nhiên quá trình này được đánh giá là còn chậm và chưa triệt để. Hầu hết các doanh nghiệp sau cổ phần hoá vẫn là nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu chi phối, được hưởng nhiều ưu đãi và giữ thế độc quyền trong nhiều lĩnh vực. Để tạo môi trường cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, Chính phủ nên xây dựng một lộ trình kiên quyết nhằm thu hẹp khu vực DNNN thông qua bán toàn bộ hoặc cổ phần hóa triệt để các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực công ích. Nhà nước chỉ nên sử dụng các DNNN với vai trò là công cụ khắc phục những thất bại của thị trường, tránh sử dụng chúng như những công cụ để điều tiết nền kinh tế.
Khuyến nghị 3: Giải điều tiết các thị trường, tăng cường cạnh tranh và tự do thương mại

Các chính sách giải điều tiết (deregulation) gỡ bỏ các kiểm soát, thúc đẩy cạnh tranh và tự do thương mại có thể làm tăng cung thị trường, giảm giá cả và mở rộng sự lựa chọn cho người tiêu dùng. Giải điều tiết giúp tăng số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng hàng hóa và dịch vụ trong cùng một lĩnh vực. Bên cạnh đó, Chính phủ có thể tiến hành các chính sách hỗ trợ cạnh tranh như các ban hành các quy định về chống độc quyền áp đặt giá, chống lạm dụng vị thế chi phối thị trường của các tập đoàn lớn, hoặc thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Ngoài ra, thuế quan cần được tiếp tục cắt giảm hơn nữa nhằm thúc đẩy tự do thương mại. Kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam đã và đang thực hiện theo lộ trình cam kết cắt giảm thuế quan ở khoảng 3.800 dòng thuế khác nhau, chiếm khoảng 35,5% số dòng của biểu thuế. Tuy nhiên, mức độ cắt giảm ở mỗi dòng thuế được đánh giá vẫn còn khiêm tốn, phổ biến ở mức từ 1–3%, do những lo ngại về khả năng cạnh tranh kém và chưa sẵn sàng của các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, vẫn còn tới khoảng 6.870 dòng, chiếm 64,5% số dòng của biểu thuế được ràng buộc ở mức thuế trần hoặc không được cắt giảm so với thời điểm trước khi gia nhập WTO. Số lượng mức thuế suất cũng mới được giảm từ 48 xuống còn 33 mức, vẫn cao hơn nhiều so với từ 3–5 mức như đang áp dụng ở các nước trong khu vực.
Khuyến nghị 4: Khuyến khích đầu tư vào phát triển công nghệ, giáo dục và đào tạo để cải thiện năng suất và phát triển vốn con người

Tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của Việt Nam không thể không dựa trên nền tảng lao động chất lượng cao với khả năng sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới. Đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, thay vì mở rộng quy mô như hiện nay, Việt Nam cần chú trọng xây dựng và hỗ trợ phát triển các trường đại học/chương trình đào tạo trọng điểm chất lượng cao, tách biệt với các trường/chương trình đào tạo vì mục tiêu tài chính hay vì mục tiêu phổ cập. Các trường đại học/chương trình đào tạo trọng điểm này cần cạnh tranh với nhau để nhận sự hỗ trợ tài chính của nhà nước nhằm thu hút được các giảng viên và sinh viên ưu tú, làm nòng cốt cho sự phát triển khoa học kĩ thuật và thúc đẩy tăng trưởng của kinh tế trong tương lai. Đối với hệ thống khoa học và công nghệ, Việt Nam cần xây dựng lại chuẩn mực khoa học trong hệ thống nghiên cứu; cần sửa lại các biện pháp miễn giảm thuế cho đầu tư phát triển công nghệ theo hướng dễ nhận biết hơn; cần xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ theo hướng cạnh tranh và bình đẳng với tất cả các cơ sở nghiên cứu, của nhà nước cũng như tư nhân; và cần có những chính sách để liên kết hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, các viện nghiên cứu trọng điểm với khu vực doanh nghiệp.

Khuyến nghị 5: Cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư nước ngoài

Một trong những nguyên nhân chính khiến môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng xấu đi là do tham nhũng. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn được Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp hạng vào một trong các quốc gia có tình trạng tham nhũng nghiêm trọng nhất (Xếp thứ hạng 123/174 vào năm 2012). Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, tham nhũng ở Việt Nam còn lan sang các lĩnh vực vốn được coi trọng về đạo lý như giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội, và thậm chí là ngay cả trong các cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó, kết quả điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh năm 2011 cũng cho thấy, tham nhũng đang là rào cản cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài khi có tới hơn 52% số doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng họ phải chi trả dưới dạng tiền lót tay cho các cán bộ hành chính địa phương, 7% số doanh nghiệp phải chi trả tới hơn 10% tổng thu nhập của họ cho các khoản chi phí không chính thức. Rõ ràng, các hành vi tham nhũng là nguy hại và cần được giảm thiểu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh trước khi Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn trong dài hạn.
-------------------- 
Bài viết này được trích lược từ cuốn Kinh tế Việt Nam: Từ chính sách bình ổn tổng cầu sang chính sách trọng cung để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn do các tác giả Phạm Thế Anh (chủ biên), Đinh Tuấn Minh và Nguyễn Thị Minh thực hiện. Xem giới thiệu sách ở đây http://theanh98.blogspot.com/2013/03/gioi-thieu-sach.html

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Chính sách tỷ giá: Cần thả nổi có kiểm soát chứ không phải phá giá

| Đinh Tuấn Minh |

(Một version của bài viết trên SGTT ngày 26.02.2013) 


Sự biến động tỷ giá USD/VND bất ngờ tại Việt Nam trong tuần qua sau hơn 1 năm yên ắng cộng với nhận định của một số chuyên gia kinh tế về sự cần thiết phải phá giá VND với mức độ 3 – 4% để hỗ trợ xuất khẩu khiến cho nhiều người nghĩ rằng đây là một xu hướng tất yếu trong năm 2013. Tôi không đồng ý với luận điểm này. Tôi cho rằng việc phá giá VND lúc này là thiếu có cơ sở và trái ngược với mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế trong thời điểm hiện tại. Điều mà Ngân hàng nhà nước cần làm (NHNN) là điều hành một chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát, tức để tỷ giá biến động hàng ngày linh hoạt hơn theo cung và cầu thực về ngoại tệ trên thị trường, chứ không phải là một chính sách khá cứng nhắc như hiện nay.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Ý kiến về vai trò của DNNN trong Dự thảo Hiến pháp 2013



| Đinh Tuấn Minh |

(Ý kiến trên TBKTSG 17.01.2013)

Hiến pháp của một quốc gia được thiết kế về cơ bản có bốn nội dung. Nội dung thứ nhất là xác lập những quyền mà người dân quốc gia đó đáng được hưởng. Nội dung thứ hai là xác lập những nghĩa vụ mà người dân phải tuân thủ. Nội dung thứ ba là cách thức tổ chức bộ máy nhà nước để bảo vệ những quyền mà người dân được hưởng và cưỡng ép người dân phải thực thi các nghĩa vụ. Vì nhà nước là bộ máy được người dân trao cho quyền lực cưỡng chế để thực thi việc bảo vệ các quyền mà người dân đáng được hưởng cũng như các nghĩa vụ mà người dân phải tuân thủ nên hiến pháp cũng có thêm một phần nội dung nữa là các qui tắc hạn chế lạm dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước làm phương hại đến các quyền của người dân. Có nhiều quốc gia, phần quyền và nghĩa vụ của người dân được tách riêng (Tuyên ngôn về quyền con người) khỏi hiến pháp,  tức hiến pháp chỉ hướng vào các qui tắc tổ chức bộ máy nhà nước và hạn chế sự lạm quyền của nhà nước.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Đề án mua bán nợ nhìn từ sức ép tái cơ cấu kinh tế

| Nguyên Minh Cường |
 
SGTT.VN (14.01.2013) - Đề án thành lập công ty Mua bán nợ quốc gia (VAMC) hiện đang dần được hé lộ trong tuần qua trên một số báo. Theo đó, các khoản nợ xấu của ngân hàng sẽ được VAMC mua lại theo giá trị sổ sách. Các ngân hàng Thương mại (NHTM) bán nợ sẽ được VAMC thanh toán bằng trái phiếu xử lý nợ, và có thể dùng trái phiếu này thế chấp tại ngân hàng nhà nước (NHNN) để vay chiết khấu.

Khi thu hồi được các khoản nợ, NHTM sẽ được 85%, còn VAMC sẽ được hưởng 15% giá trị thu hồi. Còn nếu NHTM không thu hồi được khoản nợ, VAMC cũng chỉ mất chi phí xử lý và chi phí quản lý nợ. Như vậy, gánh nặng xử lý nợ xấu vẫn thuộc trách nhiệm của các NHTM. Điều này có thể khiến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế khó có thể đẩy nhanh được.

Siết thị trường vàng: được và mất

| Nguyên Minh Cường |

SGTT (07.01.2013) - Triển khai nghị định 24 của Chính phủ về hoạt động kinh doanh vàng, từ ngày 10.1.2013 chỉ có những địa điểm được ngân hàng Nhà nước cấp phép mới được kinh doanh vàng miếng. Với những quy định khá ngặt nghèo về vốn điều lệ (trên 100 tỉ đồng), kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực mua bán vàng (trên hai năm), số thuế đã nộp, có mạng lưới chi nhánh tại ít nhất ba tỉnh thành..., cả nước chỉ có 14 doanh nghiệp và 17 tổ chức tín dụng, với tổng cộng 2.400 điểm giao dịch trên cả nước được cấp phép mới kinh doanh vàng miếng. 

Như vậy, khoảng 5.600 cửa hàng vàng đang hoạt động chỉ còn được phép kinh doanh vàng trang sức. Không những vậy, trong thời gian tới, ngân hàng Nhà nước còn dự định đưa ra các quy định để siết hoạt động kinh doanh vàng trang sức. Vậy đâu là những điểm được và mất ở những quy định này?

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Cần tập trung vào giải pháp căn cơ

| Đinh Tuấn Minh |

GTT.VN (14.11.2012) - Theo ý kiến cá nhân của tôi, nguy cơ bất ổn của vàng đối với tỷ giá vẫn chưa được gỡ. Các biện pháp nghiệp vụ đối với nợ xấu hiện nay nếu không có giải pháp căn cơ chỉ là đẩy một phần nợ xấu của hệ thống từ hiện tại sang tương lai mà thôi.

Giá vàng đang như quả bom bị vùi xuống đất

Tỷ giá trong thời gian vừa qua ổn định, chịu ít tác động bởi chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế chủ yếu là do nguồn cung USD của Việt Nam lớn hơn nhu cầu. Nhu cầu ngoại tệ giảm chủ yếu là vì tổng cầu của nền kinh tế bị suy giảm. Với mức chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế tới 3 triệu đồng như hiện nay thì chắc chắn sẽ có các hiện tượng tiêu cực mới bên cạnh nhập lậu vàng xuất hiện, chẳng hạn làm giả vàng SJC. Hay nói cách khác, vấn đề về vàng ở Việt Nam hiện nay vẫn như quả bom bị vùi xuống đất mà thôi. Chưa biết khi nào thì nổ.

Khả năng hạ lãi suất đang đến dần

|Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN (17.12.2012) - Tín dụng trong năm nay không phải là do lãi suất cho vay cao, mà do mặt bằng lãi suất huy động và tỷ lệ nợ xấu quá cao. Giải quyết ổn thoả hai vấn đề, trên là giải pháp căn cơ để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận được dòng vốn với lãi suất phù hợp, để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Trong khi vấn đề nợ xấu chưa có chuyển biến, thì vấn đề mặt bằng lãi suất huy động đã có dấu hiệu tích cực.

Trong tuần qua, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) tiếp tục hạ lãi suất huy động các kỳ hạn dài (12 tháng trở lên) từ 12 – 13% xuống còn khoảng 10,5 – 12%/năm. Lãi suất kỳ hạn dài cao nhất của ACB hiện chỉ còn 11,8%/năm, Techcombank 11,5%, EIB 11,5%/năm, MBB 11%/năm, và Sacombank 12%/năm. Mặc dù mới chỉ giảm lãi suất các kỳ hạn dài, nhưng đây có thể là tín hiệu tốt cho thấy xu hướng lãi suất sẽ còn tiếp tục giảm.

Rủi ro từ trái phiếu chính quyền địa phương

| Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN - Khó khăn kinh tế Việt Nam năm 2012 đã khiến cho tình hình thu chi ngân sách nhà nước không đạt được chỉ tiêu như kế hoạch. Không chỉ tại những tỉnh, thành phố có tốc độ phát triển kinh tế chậm mà tại cả ba đầu tàu kinh tế khu vực của ba miền Bắc, Trung, Nam là Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM cũng đã không hoàn thành thu ngân sách nhà nước.


Áp trần lãi suất cho vay: lợi bất cập hại

| Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN (03.12.2012) - Vừa qua, theo các tuyên bố của ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Chính phủ trần lãi suất cho vay có thể được áp dụng trong thời gian sắp tới nhằm mục đích giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với mức lãi suất thấp hơn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Nếu khả năng này xảy ra thì đây sẽ là lần đầu tiên trần lãi suất cho vay chính thức áp dụng. Tuy nhiên, hiệu quả của biện pháp hành chính này vẫn là một dấu hỏi.

Mức lãi suất cho vay dưới 10%

Kể từ cuối năm 2011 tới nay, NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát dưới một con số. Để thực thi được chính sách này, các mức lãi suất chính sách của NHNN và lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại (NHTM) cần phải được duy trì ở mức đủ cao để NHNN có thể hút được tiền trong lưu thông về. Hệ quả là lãi suất cho vay cũng phải duy trì ở mức cao tương ứng, khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn từ hệ thống ngân hàng. 

Hạ màn đầu tư chéo ngân hàng?

| Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN (26.11.2012) - Trong tuần qua, chủ tịch hội đồng quản trị của ACB đã cho biết: nhóm công ty có liên quan tới ACB đã thoái phần lớn các khoản đầu tư vào ngân hàng Kiên Long, Eximbank, thu về tổng cộng 4.500 tỉ đồng. Giá trị này chiếm tới gần 35% tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng ACB, chưa bao gồm các khoản đầu tư của ACB vào một số các ngân hàng thương mại (NHTM) khác như Vietbank, Đại Á… Không chỉ có ACB mà nhiều NHTM khác cũng đang nắm giữ những khoản đầu tư tương tự như ACB. Dù chưa biết lỗ lãi từ việc thoái vốn ra sao nhưng việc chuyển nhượng cổ phiếu tại thời điểm này không phải dễ dàng gì.


Không mất tiền ngân sách thì mất tài sản công

| Nguyên Minh Cường |

GTT.VN (20.11.2012) - Trong kỳ họp Quốc hội vừa qua, các đại biểu quốc hội tỏ ra rất quan tâm tới nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nhất là về hiệu quả sử dụng vốn, tỷ lệ nợ xấu và các biện pháp khắc phục. Trong trả lời chất vấn bằng văn bản cho đại biểu, bộ trưởng bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã đưa ra nhiều còn số khá giật mình về tình hình nợ của các DNNN. Tuy nhiên, người dân vẫn hầu như không biết gì về giải pháp để giải quyết bài toán nợ tại khu vực DNNN.

DNNN vay nợ nhiều nhưng không hiệu quả

 Theo bộ trưởng Vương Đình Huệ thì tính tới thời điểm 31.12.2011, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỉ đồng, tăng 18,9% so với 2010. Số nợ này bằng khoảng 65,2% GDP của toàn nền kinh tế trong năm 2011.

Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần. Đáng chú ý là có tới 30 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn ba lần. Trong đó có tám đơn vị có tỷ lệ trên mười lần, mười doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 – 5 lần. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất là 0,34 lần còn tỷ lệ tổng nợ phải trả/tổng nguồn vốn bình quân tính theo số liệu báo cáo hợp nhất là 0,62 lần. Tỷ lệ tổng tài sản/tổng nợ phải trả, theo báo cáo hợp nhất bình quân năm 2011 là 1,62 lần.

Thị trường tiền tệ: ổn định vẫn lo

| Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN 12.11.2012 - Không như thời điểm này các năm trước, thị trường tiền tệ trong nước năm nay khá ổn định. Các ngân hàng thương mại (NHTM) hầu như không có dấu hiệu chạy đua lãi suất VND. Đồng thời, tín hiệu hạ lãi suất từ một số NHTM cũng đang ngày càng rõ rệt hơn. Lãi suất huy động kỳ hạn dài từ 12 tháng trở lên của nhiều NHTM đã giảm từ 0,5 – 1%. Các kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng hầu như vẫn duy trì mức lãi suất trần 9% nhưng các chương trình khuyến mãi tặng quà và tiền đã giảm hẳn.

Huy động tăng mạnh khiến các NHTM thừa vốn

Theo thống kê của ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến 19.10.2012, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng là 2,77%. Trong khi đó, tăng trưởng huy động của các tổ chức tín dụng tăng 14,02%. Đặc biệt, huy động VND tăng 17,52%. Điều này đã giúp cho tỷ lệ cho vay/huy động của toàn hệ thống NHTM sau một thời gian rất dài luôn cao hơn mức 100% đã giảm xuống dưới mức này. Theo tính toán của người viết, tỷ lệ cho vay/huy động đến thời điểm 19.10.2012 chỉ còn ở mức 97,03%. Như vậy, toàn bộ nhu cầu vốn để cho vay của các NHTM đã có thể được tài trợ từ phần vốn huy động.

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Giải quyết bài toán nợ xấu: cải cách toàn diện để thu hút dòng vốn ngoại

| Đinh Tuấn Minh |

(Bài đăng trên TBKTSG 01.11.2011)



Theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng nhà nước, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống tín dụng Việt Nam đến thời điểm cuối tháng 10.2012 ở mức 8,8% - 10%. Dựa trên các số liệu công bố gần đây của NHNN về số dư nợ tín dụng toàn hệ thống (2.880.061 tỷ đồng vào cuối tháng 7.2012) cũng như tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống (1,24% vào cuối tháng 7.2012 và 2,77% vào ngày 19.10.2012), ta có thể ước tính được số nợ xấu của toàn hệ thống sẽ vào khoảng từ 257.000 tỷ đồng đến 292.350 tỷ đồng.

Với con số nợ toàn hệ thống vào cuối quí I.2012 vào khoảng 202.000 tỷ đồng như công bố của NHNN trước đây thì xét về giá trị tuyệt đối, trong vòng hai quí vừa qua nợ xấu của toàn hệ thống đã tăng thêm khoảng 55.000 - 90.000 tỷ đồng; tức đã tăng thêm 27,2% - 44,5% xét về giá trị tương đối. Đây là mức tăng ròng vì nó không tính đến số nợ xấu mà các tổ chức tín dụng đã tự xử lý từ đầu năm, như NHNN công bố, khoảng 36.000 tỷ đồng nhờ cơ cấu lại các khoản nợ, hoãn nợ, xóa nợ.

Như vậy, từ đầu năm tới nay bức tranh nợ xấu của Việt Nam tiếp tục xấu đi bất chấp nỗ lực tự giải quyết của các tổ chức tín dụng. Đây có lẽ là lý do mà NHNN đã quyết định đẩy nhanh tiến độ hình thành công ty mua bán nợ xấu quốc gia để giải quyết nợ xấu, theo đó NHNN dự định sẽ đệ trình đề án này lên Chính phủ vào ngày 15.11 tới.

Vì sao nợ xấu của các tổ chức tín dụng lại khó giải quyết bằng giải pháp tự thân đến vậy? Liệu Công ty mua bán nợ xấu quốc gia có thể đảm nhận vai trò xử lý nợ xấu được không? Để trả lời hai câu hỏi này chúng ta cần phải biết được những đặc điểm có tính đặc thù của nợ xấu trong hệ thống tín dụng Việt Nam.

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Càng siết quản lý vàng, nền kinh tế càng chịu thiệt

| Nguyên Minh Cường |


SGTT.VN 30.10.2012 - Trong tuần qua, ông Lê Minh Hưng, Phó thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN), đã đưa ra một số thông tin về các chính sách mà NHNN có thể thực hiện nhằm quản lý thị trường vàng trong thời gian tới. Trong số các chính sách này đáng chú ý nhất các chính sách kéo dài thời hạn đóng trạng thái vàng, quan điểm của nhà nước về quản lý thị trường vàng, về huy động vàng trong dân, và khả năng áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với việc mua bán vàng.

Vàng là hàng hoá hay tiền tệ?

Dường như NHNN đang cố gắng xây dựng chính sách về vàng theo hướng coi vàng chỉ đơn thuần là hàng hoá thay vì là là một loại tiền tệ đặc biệt.

Câu hỏi với tín phiếu

| Nguyên Minh Cường |

SGTT.VN 22.10.2012 - Kể từ ngày 10.10.2012, ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bất ngờ bán tín phiếu trở lại cho các ngân hàng sau bốn tháng tạm ngưng. Khối lượng bán ra mới chỉ đạt khoảng 6.000 tỉ đồng sau bốn phiên đấu thầu, khá thấp so với các phiên hồi đầu năm. Kỳ hạn của tín phiếu đợt này cũng khá ngắn: 28, 56 và 91 ngày trong khi kỳ hạn dài nhất của đợt bán hồi đầu năm lên tới 182 ngày.


Lãi suất trúng thầu dao động trong khoảng 4,5 – 6,5%/năm, tương đương với mặt bằng lãi suất trong các phiên đấu thầu hồi cuối quý 2 nhưng khá thấp so với những phiên trong tháng 3 năm nay, khi đó lãi suất trúng thầu lên tới 12%/năm. Mức lãi suất trên cũng tương đương với lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng hiện nay.

Việc bán tín phiếu của NHNN không ngoài mục đích hút tiền khỏi hệ thống nhưng động thái này được cho là khá bất ngờ trong thời điểm hiện nay khi mà tăng trưởng tín dụng của hệ thống vẫn rất chậm chạp, lãi suất huy động từ dân cư đang có xu hướng tăng dần.

Thâm hụt ngân sách tăng nhanh sẽ cản trở quá trình tái cơ cấu kinh tế

| Nguyên Minh Cường |


SGTT.VN 15.10.2012 - Theo bộ Tài chính, tính đến tháng 9.2012, thâm hụt ngân sách nhà nước đã đạt mức 122.320 tỉ đồng, bằng 87,2% dự toán năm, một phần là do chi tiêu trong quý 3 tăng mạnh, trong khi thu ngân sách nhà nước lại tăng rất chậm so với cùng kỳ. Điều này khiến cho nguồn tiền khả dụng cho việc tái cơ cấu nền kinh tế từ tiết kiệm chi tiêu ngân sách nhà nước trở nên khó khăn hơn. Nếu không cải thiện được tình trạng này, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế sẽ diễn ra chậm chạp.


Doanh nghiệp nhà nước: cần tách biệt chức năng đại diện quyền sở hữu

| Nguyên Minh Cường |


SGTT.VN 08.10.2012 - Trong tuần qua, Chính phủ đã quyết định chấm dứt việc thử nghiệm mô hình tập đoàn đối với hai tập đoàn lớn trong ngành xây dựng là tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam (VNIC) và tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam (HUD). Như vậy, sau hai năm rưỡi tồn tại dưới mô hình tập đoàn trực thuộc quản lý của Thủ tướng Chính phủ, hai đơn vị này đã được trả lại cho bộ quản lý ngành như trước đây, cụ thể là bộ Xây dựng.

Lúng túng về cơ chế đại diện quyền chủ sở hữu nhà nước

Việc hai tập đoàn VNIC và HUD được chuyển về cho bộ quản lý ngành, phản ánh thực trạng lúng túng của Chính phủ trong việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Theo các quy định hiện hành, các quyền chủ sở hữu đối với DNNN do Chính phủ thống nhất quản lý. Tuỳ từng DNNN, Chính phủ có thể trực tiếp thực hiện quyền này hoặc giao về cho các bộ quản lý ngành, UBND tỉnh, các tập đoàn và tổng công ty. Theo thống kê của ông Trần Tiến Cường thuộc viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đến cuối năm 2011, Việt Nam có tới 101 đầu mối quản lý trực tiếp 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Với số lượng đầu mối quản lý lớn như vậy, việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN trở nên rất khó giám sát. Các quyết định về nhân sự, về phương hướng phát triển kinh doanh, về thụ hưởng quyền lợi từ kết quả hoạt động của DNNN trở nên khó ăn nhập với nhau. Hệ quả của cơ chế đại diện chủ sở hữu này là khu vực DNNN luôn tìm kiếm đặc quyền đặc lợi từ Nhà nước, nhưng lại thể hiện các kết quả kinh doanh khá èo uột so với các khu vực kinh tế khác.

GDP vẫn tăng trưởng khá nhờ kiều hối và đầu tư công

| Nguyên Minh Cường |


SGTT.VN 01.10.2012 - Trong nhiều năm qua, tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam luôn cao hơn nhiều so với GDP. Tuy nhiên, điều này đã có sự thay đổi trong chín tháng đầu năm nay. Tăng trưởng tín dụng trong chín tháng đầu năm 2012 chỉ ở mức 2,35% nhưng GDP chín tháng đầu năm lại tăng 4,73%. Trong đó, GDP quý 3 là 5,35%, cao hơn nhiều so với quý 1 (4%) và quý 2 (4,66%). Điều gì khiến cho tốc độ tăng trưởng GDP vẫn tiếp tục cải thiện dù cho tốc độ tăng trưởng tín dụng rất thấp?

Khu vực dịch vụ tiếp tục giữ đà tăng trưởng tốt

So với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù GDP tăng trưởng thấp hơn nhưng lĩnh vực dịch vụ vẫn là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng tốt nhất. Tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ đạt 5,97%, cao hơn nhiều so với tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp (4,36%) và lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (2,48%). Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ chỉ thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 là 0,53%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản lại thấp hơn cùng kỳ năm trước 1,27% và tốc độ tăng trưởng công nghiệp thấp hơn cùng kỳ 1,49%. So với công nghiệp, nông nghiệp thì lĩnh vực dịch vụ thường sử dụng ít vốn hơn và nhu cầu chất xám nhiều hơn. Vì vậy, tín dụng tăng trưởng thấp không tác động nhiều đến lĩnh vực dịch vụ này.

Lĩnh vực dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Tỷ trọng lĩnh vực dịch vụ trong GDP tiếp tục duy trì đà tăng qua các năm và đã vượt lĩnh vực công nghiệp từ năm 2011. Do vậy, nhờ vào tốc độ tăng trưởng tốt và tỷ trọng lớn nhất trong GDP của lĩnh vực này mà tốc độ tăng trưởng GDP trong chín tháng đầu năm 2012 vẫn khả quan.

Sốt thị trường vàng: những dấu hỏi về chính sách

| Nguyên Minh Cường |


GTT.VN 24.09.2012 - Trong suốt một tháng qua, thị trường vàng đã hoạt động mạnh trở lại sau gần một năm trầm lắng. Sau khi đạt mốc 45 triệu đồng/lượng vào đầu tháng 2.2012, giá vàng bắt đầu đi xuống và chạy quanh mức 41 – 43 triệu đồng/lượng cho tới cuối tháng 7. Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 8, giá vàng bắt đầu tăng mạnh và chạm mốc 47 triệu đồng/lượng từ giữa tháng 9 và đi ngang từ đó tới nay. Giá vàng trong nước đã tăng hơn 5 triệu đồng/lượng trong quãng thời gian chưa đầy một tháng trong khi giá vàng thế giới quy đổi chỉ tăng khoảng xấp xỉ 4 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng sôi động trở lại

Thị trường vàng trong nước trong thời gian qua đột nhiên trở nên sôi động theo xu hướng chung của thị trường vàng thế giới, sau khi các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới như Fed, ECB, và BoJ đều tuyên bố đẩy mạnh bơm tiền nhằm thúc đẩy các nền kinh tế thoát khỏi trì trệ.

Tuy nhiên, khác với lần tăng giá vàng trên thế giới hồi đầu năm 2012, người mua trong nước đột ngột quan tâm tới vàng hơn. Nhiều ngân hàng tăng mua vàng vào để đảm bảo thanh khoản; còn cầu từ phía người dân phần lớn do những biến động tâm lý trước những bất ổn trên các thị trường tài chính.

Điều này làm cho giá vàng trong nước tăng mạnh hơn so với giá vàng thế giới. Khoảng cách giá vàng trong nước cao hơn so với thế giới ngày càng bị doãng ra, có thời điểm lên tới hơn 3 triệu đồng lượng.